Bản dịch bài thơ Hán Nôm “Sơn viên tiểu mai”

DỊCH THƠ HÁN NÔM – BÀI THƠ “SƠN VIÊN TIỂU MAI” Đầu xuân năm mới, với các gia tộc tại Việt Nam là việc tổ chức các hoạt động có ý nghĩa “Uống nước nhớ nguồn” như hội làng, họp gia tộc, giỗ tổ, mừng thọ,… Dịch Thuật CVN đã luôn được các bậc Tiền bối cọi trọng và lựa chọn dịch vụ DỊCH THUẬT HÁN NÔM các Gia phả, Văn tự, thơ Hán Nôm, các bút tích của Tổ Tông truyền lại. Trong đó, có một lần đã nhận khách yêu cầu DỊCH THƠ HÁN NÔM, bài thơ được lưu tại nhà thờ tổ của khách chỉ con lại 2 câu thơ, Dịch Thuật CVN đã giúp khách dịch và phục chế lại toàn bộ bài thơ với phần Phiên âm nguyên bản, dịch nghĩa, dịch thơ, chú giải, và quan trọng nhất là tìm ra lịch sử của tác giả khi sáng tác ra bài thơ,… DỊCH THUẬT CVN là một công ty uy tín hàng đầu trên toàn quốc có khả năng Dịch thuật Hán Nôm với văn phong chính xác, giá cả hợp lý. Mọi nhu cầu về dịch tiếng Hán Nôm quý khách vui lòng liên hệ tới chúng tôi.

Bản dịch bài thơ Hán Nôm "Sơn viên tiểu mai"
Bài dịch  – Bản dịch bài thơ Hán Nôm “Sơn viên tiểu mai”

Bài dịch  – Bản dịch bài thơ Hán Nôm “Sơn viên tiểu mai” (山園小梅)  (Mai nhỏ trong vườn núi) của Lâm Bô (林逋) đời Tống (Trung Quốc). Bài thơ như sau:

【山園小梅  –  林逋 眾芳搖落獨喧妍,

佔盡風情向小園。

疏影橫斜水清淺,

暗香浮動月黃昏。

霜禽欲下先偷眼,

粉蝶如知合斷魂。

幸有微吟可相狎,

不須檀板共金樽。

PHIÊN ÂM:

SƠN VIÊN TIỂU MAI – LÂM BÔ

Chúng phương dao lạc độc huyên nghiên,

Chiếm tận phong tình hướng tiểu viên.

Sơ ảnh hoành tà thủy thanh thiển,

Ám hương phù động nguyệt hoàng hôn.

Sương cầm dục há tiên thâu nhãn,

Phấn điệp như tri hợp đoạn hồn.

Hạnh hữu vi ngâm khả tương hiệp,

Bất tu đàn bản cộng kim tôn.

CHÚ GIẢI:

(1). 眾芳 (Chúng phương): Trăm hoa.

(2). 搖落 (Dao lạc): Bị gió thổi rụng

(3). 暄妍 (Huyên nghiên): Xinh đẹp.

(4). 疏影橫斜 (Sơ ảnh hoành tà): Bóng thưa nghiêng soi xuống nước.

(5). 暗香浮動 (Ám hương phù động):  Mùi hương hoa mai tỏa ra dào dạt.

(6). 霜禽 (Sương cầm): Con chim hàn tước, chim sẻ.

(7). 合 (Hợp): Nên.

(8). 微吟 (Vi ngâm): Ngâm hát nhỏ tiếng.

(9). 狎 (Hiệp): Gần gũi, thân cận.

(10). 檀板 (Đàn bản) : Tấm phách bằng gỗ đàn hương dùng khi diễn xướng.

(11). 金樽 (Kim tôn): Chén rượu vàng.

DỊCH NGHĨA:

Trăm hoa đều rụng, chỉ còn một mình mai tươi đẹp,

Hứng cơn gió rét, vẻ đẹp ấy chiếm trọn cảnh quang của khu vườn con.

Bóng thưa nghiêng soi trong làn nước trong cạn,

Hương thơm tỏa ngào ngạt dưới ánh trăng hoàng hôn.

Chim sẻ liếc nhìn trộm hoa mai trước khi muốn bay sà xuống,

Bươm bướm nếu viết vẻ đẹp của hoa mai thì sẽ mất hồn.

May có lời ngâm nhẹ nhàng gần gũi,

Đâu cần phách gõ với chén rượu vàng.

DỊCH THƠ:              

Trăm hoa đều rụng chỉ mai còn,

Khoe sắc trước gió chiếm vườn con.

Bóng thưa nghiêng xuống soi làn nước,

Hương tỏa ngạt ngào trăng hoàng hôn.

Chim sẻ trộm nhìn ưa sà xuống,

Bướm biết mai xinh sẽ đoạn hồn.

May có lời ngâm bao gần gũi,

Đâu cần phách gõ chén rượu nồng.

TÁC GIẢ:

Lâm Bô (967 – 1028) thi nhân thời Tống, tự là Quân Phục (君 復), người thôn Hoàng Hiền, Triết Giang, Trung Quốc. Từ nhỏ khắc khổ hiếu học, thông hiểu kinh sử bách gia. Ông tính điềm đạm, không theo đuổi danh lợi. Khi lớn lên ông từng ngao du ở vùng Giang Hoài, sau đó về sống ẩn dật ở Tây Hồ Hàng Châu, nên có biệt hiệu là Tây Hồ xử sĩ, dựng lều ở trên ngọn núi Cô Sơn. Ông thích trồng mai nuôi hạc, suốt đời không lấy vợ, ông gọi đùa “mai là vợ hạc là con”, Ông thường cưỡi chiếc thuyền nhỏ đi ngao du khắp các chùa miếu ở Tây Hồ, giao du với các cao tăng bạn thơ. Mỗi lần khách đến nhà, đứa tiểu đồng thả hạc bay lên, ông thấy hạc bay liền chèo chuyền về nhà tiếp đón khách. Ông suốt đời sống thanh bạch, mất năm 62 tuổi, được phong tên thụy là  Hòa Tịnh tiên sinh (和靖先生).

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *